Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

HOA TÔ PƠN



Rảnh rỗi lôi những cuốn sổ cũ ngày xưa ra. Bắt gặp lại một bài viết mà ngày xưa mình rất thích. Có những câu chuyện không đơn thuần chỉ là một câu chuyện, nó gây một ấn tượng mạnh mẽ và ám ảnh, có khi suốt cuộc đời:

HOA TÔ PƠN
    Bản mặt ông như thế mà cũng lãng mạn ra phết”. Anh bạn tôi nguyên là phiên dịch cho một đội lao động người Việt ở nhà máy ôtôzin, giờ có một côngtennơ bán quần áo ở chợ Vòm, tủm tỉm cười và nhận xét khi chúng tôi chui ra khỏi cửa một bến tàu điện ngầm gần trung tâm thành phố. Hè năm nay nhiệt độ ở Matxcơva cao bất thường, nhưng vẫn có cảm giác như tiết thu ở Hà nội. Trên trời những sợi bông nhẹ bay, rơi như tuyết:” Ở bên Nga cũng có cây bông gòn?”. Anh bạn tôi cười phá lên trước sự ngớ ngẩn của tôi:” Hoa tô pơn đấy”. Rồi chẳng đợi tôi hỏi tiếp, anh chỉ cho tôi hàng cây tô pơn cao vút, lá xanh ngằn ngặt:” Người Nga có một bài hát rất hay về cây tô pơn… Tôi hỏi cây tô pơn. Tô pơn ơi, hoa của mày bay đi khắp nơi. Người yêu của tôi đâu? Cây tô pơn không trả lời…”. Một lát sau, anh bạn tôi lại thủng thẳng:” Bài hát hợp lòng người ra phết”.
    Khi ấy tôi đang là cậu học sinh lớp 6 trường Trương Vương. Bấy giờ, phong trào kết bạn với học sinh Liên Xô, CHDC Đức đang độ cao trào. Trường tôi mỗi tháng được phân tới hàng chục địa chỉ. Cô giáo chủ nhiệm dành những địa chỉ ấy như một phần thưởng. May mắn và hạnh phúc lớn, cuối học kì một năm đó, tôi được thưởng một người bạn”. Đó là Natasa, cô gái học lớp 6 trường phổ thông số 14. Chúng tôi trao đổi thư từ và ảnh trong suốt thời phổ thông. Ngay cả khi tôi về làng quê sơ tán trong những năm chống Mỹ. Bất cứ bức thư nào Natasa gửi tôi cũng như ngược lại, chúng tôi đều ao ước gặp nhau. Học hết phổ thông, Natasa vào học trường trung cấp điện ở ngoại ô Matxcơva. Còn tôi, cũng như bao chàng trai khác thời bấy giờ, trút bộ quần áo học sinh, khoác áo lính, lội bộ dọc Trường sơn. Chúng tôi bặt tin nhau từ năm ấy.
    Những tưởng quên hẳn, vậy mà hôm nghe tin được sang Nga công tác, tôi lập tức nghĩ ngay đến Natasa.” Đây rồi. Cũng may nhà nàng ở gần trung tâm thành phố cho nên không thay đổi. Nếu nhà nàng ở ngoại ô thì chịu chết, mấy năm nay Mát thay đổi ghê gớm”. Bà gác dan to béo nhìn chúng tôi với nét mặt bình thản. Nhưng khi anh bạn tôi chìa tấm ảnh và bắt đầu giải thích thì nét mặt bà ta lộ vẻ ngạc nhiên. Bà ta ngạc nhiên thật sự khi nhìn thẳng vào mặt tôi:” Đúng là có Natasa sống ở căn hộ 37”. Hơi thở của bà ta nồng nặc mùi rượi mạnh. Tôi lúng túng thật sự. Nửa mừng, nửa ngại ngần. Cảm giác ấy vụt biến mất khi nghe giọng bà gác dan vô hồn:” Natasa đã theo chồng về sống ở Kháccốp. Cô ta đã có hai đứa con lớn. Cô ấy cũng đã bỏ chồng, nghỉ hưu và nghiện rượu nặng…” Tôi nhìn nét mặt bà gác dan. Một khuôn mặt đặc trưng của phụ nữ Nga. Nét mặt, nhất là cặp mắt rất lành, có vẻ như quen quen…
    Rời khỏi khu nhà với tâm trạng vừa buồn, vừa vui. Nhưng, cảm giác buồn lớn hơn. Giọng anh bạn tôi cũng nửa vui nửa buồn:” Linh tính tôi mách bảo, bà gác dan ấy chính là Natasa của cậu”. Nhìn vẻ ngạc nhiên trên mặt tôi, anh bạn buông một câu triết lý chết người:” Nếu Natasa của cậu hiện vẫn ở Kháccốp thì chẳng thể tìm được. Nếu Natasa là bà gác dan lúc nãy thì càng khó tìm hơn”.
Tôi lặng thing và cố sải từng bước dài theo kiểu cách đi bộ của anh bạn. Gió vẫn thổi. Trên mặt đường vẫn từng dòng ôtô trôi vùn vụt. Theo gió, theo bánh xe, những sợi bông hoa rối rít cuộn bay.” Tôi hỏi cây tô pơn…” Anh bạn tôi lại hát? Những sợi hoa tô pơn hát?
Tản bút của Phương Nguyên
Nhân dân hằng tháng
Số 43/11 - 2000
Trên cùng của Biểu mẫu

NGHĨ VỀ PAUXTOPXKI



Mình gặp Pauxtopxki một cách hoàn toàn tình cờ. Hồi còn sinh viên chỉ thích đạp xe lượn qua mấy hiệu sách cũ ở đường Láng để lục lọi và lúc nào có xiền thì hí hửng mua vài quyển. Có một lần tìm mua một cuốn sách nào đó mà giờ chẳng nhớ nữa, anh bán sách đưa ra cuốn Bình minh mưa và hỏi có phải cuốn này không? Mình lắc đầu quay đi, hồi đấy có biết Pauxtopxki là ai đâu. Học xong ra trường, lượn qua đường Láng, lục tìm trong đống sách cũ lại thấy cuốn Bình minh mưa, nghĩ thế nào lại mua về. Tối hôm đó ngồi đọc liền một mạch cho đến tận sáng mới hết cuốn sách và tự hỏi mình sao đến tận bây giờ mới biết về Pauxtopxki. Cũng không biết diễn tả thế nào về những cảm xúc khi đọc tác phẩm của ông, chỉ biết rằng nó đẹp, rất đẹp, một vẻ đẹp của một thế giới dường như không còn tồn tại nữa. Nó dường như nằm trong sâu thẳm tâm hồn của mỗi con người, nó là những điều tốt đẹp mà bất cứ ai cũng muốn hướng tới, về những điều đã bị cuộc sống ồn ào làm cho lãng quên. Giờ thì những lúc buồn lại đọc lại những câu chuyện của ông. Tháng trước cố thức đến tận 1 giờ sáng  xem Kí sự Trở lại Volga để rình xem lại cho bằng được tập phim về Navôlôki, địa danh đã được nhắc đến trong truyện ngắn Bình minh mưa. Mà chẳng hiểu sao cứ muốn so sánh những câu truyện của Pauxtopxki với âm nhạc của The Secret Garden. Hạnh phúc đối với mình bây giờ thật đơn giản: vào một buổi chiều mưa nào đó, ngồi trên ban công tầng 2, nhấp nháp 1 ly cà phê, đọc Pauxtopki và nghe nhạc của The Secret Garden. Mà nói cho cùng, hạnh phúc có bao giờ phức tạp đâu.
"Đưa em đi tất cả hoá xong rồi
Ta đã lớn Và Pauxtopxki đã chết
Anh vẫn khóc khi nghĩ về chuyện Tuyết
Dẫu chẳng bao giờ mong đợi nữa đâu em"
Bằng Việt

LINH CẢM


 


      Đừng hỏi là tại sao hôm nay tôi lại uống. Hình như hôm nay chúng ta kỷ niệm ngày Chiến thắng, điều đó đúng, nhưng đối với tôi, anh có biết là gì không? Có thể nói, đây là ngày tang, anh hiểu chứ? Không à? Ở chỗ chúng tôi có đại đội trưởng Gurov, chỉ huy các khẩu pháo bảy mươi ly... những khẩu pháo anh hùng, mọi người gọi đó là "Vĩnh biệt, Tổ quốc!" Vì rằng chúng thường xuyên đứng bên cạnh bộ binh, nhiều khi trước cả bộ binh nữa. Nói chung, tất cả các nấm mồ chung đều là của chúng tôi, nếu như có một chiếc xe tự hành nào đó của bọn Đức có tên là "Ferdinand" lén lút vòng qua sườn và bắt đầu quét lửa...      
     Vậy là, chỉ huy pháo của chúng tôi là đại úy Gurov - một thanh niên hãy còn rất trẻ, người cân đối như một nhánh cây non, anh ấy thậm chí không thích chửi tục, những kẻ hay chửi bậy thường bị anh ấy cự cho ra trò, còn khi anh ấy cười trông thật thích, răng trắng bóng, các cô gái ở tiểu đoàn quân y cứ chết mê chết mệt. Còn anh ấy chỉ đùa: "Ôi các nàng tiên xinh đẹp, tôi yêu tất cả các cô em, nhưng tôi còn yêu xe tăng Đức hơn!" Và cái linh cảm của anh ấy về bọn Đức, tôi không biết gọi như thế nào cho phải, - nó giống như phép phù thủy vậy. Về chuyện linh cảm, có thể nói, trong người anh ấy như có một con quỷ nào đó. Hay là một vị thần cũng nên - có ai mà biết được là cái gì! Thường khi đêm tối như bưng lấy mắt, vậy mà phải đặt pháo bắn thẳng chống tăng. Lệnh của trên xuống, và không trốn đâu cho thoát, không có biểu quyết đồng ý hay phản đối gì hết. Đại đội trưởng Gurov đích thân đưa pháo ra vị trí xạ kích. Bao giờ anh ấy cũng tự mình, không giao việc đó cho ai cả, vì có lần ở ngoại ô Kiev, một trung úy trẻ măng của chúng tôi do quá cận thị mà đã dắt luôn hai khẩu pháo vào thẳng chỗ bọn Đức, bị ăn đạn súng máy đã hy sinh, và cả hai khẩu đội chỉ còn được một nhúm... Gurov có một tài năng rất quan trọng trong chiến tranh - anh ấy không thể chịu đựng được cái "họa may", "có lẽ", không cho phép bắn mò hú họa, không giơ ngực ra chịu đạn như một con bò đực mù quáng, mà đánh nhau rất tỉnh táo, thản nhiên hệt như đang làm một việc gì đó bình thường. Và cho đến tận ngày cuối chiến tranh, chưa lần nào tôi thấy anh ấy mất bình tĩnh, rối trí hay nét mặt thay đổi, mặc dù chúng tôi đã lâm vào những cảnh khủng khiếp ác liệt đến nỗi nếu quỷ sứ có vô tình nhìn thoáng thấy cũng phải dựng tóc gáy lên vì hoảng. Thế đấy, nhiều lần, Gurov tự mình đích thân dẫn pháo ra vị trí bắn thẳng. Bỗng nhiên chúng tôi nghe lệnh của đại úy: "Dừng lại". Rồi anh ấy đi suốt lượt các khẩu pháo và giải thích cho các trung đội trưởng một cách nhẹ nhàng, giọng nói không hề tỏ ra căng thẳng: "Không cần kéo pháo đi qua đồng nữa đâu, mà phải quay sang bên trái ngã tư, đi dọc theo bìa rừng chừng hai trăm mét, rồi lúc đó mới đi thẳng". Đôi khi có một trung đội trưởng nào đó cố tỏ ra thông minh nói: "Qua đồng gần hơn, đồng chí đại úy ạ". Nhưng đại úy bảo: "Ở đó có mìn". - "Làm sao biết được ạ, đồng chí đại úy? Chẳng lẽ đồng chí thấy được cả trong đêm à?" Còn anh ấy: "Tôi cảm thấy rằng cánh đồng này bị gài mìn". Lúc đầu chúng tôi ngạc nhiên, thậm chí còn cho anh ấy là đồng bóng, nhưng cuối cùng hóa ra đại úy bao giờ cũng đúng và mọi người rất kính phục anh ấy từ đó. Một lần, suốt ngày chúng tôi đợi lệnh từ trên trung đoàn xuống mà không thấy; còn đại úy cứ đi đi lại lại quanh trận địa, mặt sa sầm, và bỗng nhiên không có duyên cớ gì, ra lệnh cho đại đội chuyển các khẩu pháo từ ven rừng đến chiếm lĩnh một vị trí khác ở cánh rừng bên cạnh - cũng cùng trên một hướng bị xe tăng đe dọa. Tôi còn nhớ, chúng tôi rời pháo đi khi trời còn sáng, chỉ để lại bộ phận hậu cần, nhà bếp ở chỗ cũ. Một giờ sau, viên chuẩn úy của chúng tôi phóng một chiếc xe ngựa đến trận địa mới, đồ đạc nhà bếp bị vỡ nát hết, cả người từ đầu đến chân đầy máu me, và kể: chúng tôi vừa đi khỏi, lập tức chừng năm chục chiếc máy bay Đức "Junker" lao đến ném bom tan tành trận địa cũ. Cái linh cảm của đại úy chúng tôi là như vậy đấy... Chúng tôi cùng với Gurov đi đến tận nước Đức mà không bị thiệt hại gì đáng kể. Và tôi, như anh thấy đấy, vẫn còn sống. Sau cao điểm Deielov anh ấy được phong anh hùng, còn ngày mồng tám tháng Năm anh ấy hy sinh vì một viên đạn vào ngực. Một thằng đểu lọt lưới nào đó từ trong cửa sổ bắn ra khi anh ấy đi trong chiếc xe "Villix". Chúng tôi như phát điên lên - quay pháo lại và nã thẳng vào ngôi nhà đó cho đến lúc nó chỉ còn là một đống than vụn. Nhưng làm sao để cho anh ấy sống lại được?... Nào ta tưởng nhớ đại đội trưởng của tôi, một người thật thông minh, một sĩ quan vàng ngọc, chúng ta hãy đứng dậy nhưng sẽ không chạm cốc. Xin anh thông cảm cho, tôi không kìm được. Đối với tôi ngày hôm nay là nước mắt. Không thể coi đây là ngày hội được. Tôi không thể... 

 BONDAREV IURI